Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011


Cách bài trí đồ vật để rước lộc về nhà
Bài trí sư tử:
Khi thiết kế nội thất trong nhà nhiều chủ nhân muốn sử dụng sư tử đá hay gỗ. Khi dùng sư tử thì nhất thiết phải có đôi: một con đực, một con cái. Con sư tử đực đùa quả cầu còn con cái giỡn sư tử con. Đầu sư tử luôn phải hướng ra ngoài, có tác dụng trấn tà khí mang lại sự an bình cho ngôi nhà của bạn.

Thiết kế nội thất có đôi sư tử đá trong nhà
Bài trí hổ trong nhà:
Nhiều gia đình hiện nay rất thích treo tranh hổ, thảm hổ hay tượng bằng hổ. Thế của hổ nên ở dạng đang leo lên núi, đầu hổ ngoảnh lại. Hổ leo núi tựa như chủ nhà ngao du khắp nơi, song vẫn nhớ nhà. Tuyệt đối không treo tranh hổ đói trong nhà, hổ đói ( bụng hổ thót lại) và ở thế xuống núi tìm mồi thì rất nguy hiểm, sát cho mọi người sống trong nhà.
Thiết kế nội thất có bài trí hổ trong nhà
* Bài trí ngựa trong nhà:
“ Ngựa là tài” nên khi thiết kế nội thất bài trí ngựa thì nên để đầu ngựa hướng ra ngoài ý là cầu tài. Tuy nhiên khi bài trí hươu thì lại ngược lại, vì hươu tượng trưng cho “lộc” nên đầu hươu nên hướng vào trong nhà. Ngụ ý rằng lộc vào nhà.
Thiết kế nội thất có bài trí ngựa trong nhà
Bài trí thuyền:
Khi thiết kế nội thất có dùng đến thuyền lớn thì nên để đầu thuyền hướng vào trong nhà, ngụ ý rằng thuyền lớn cập cảng, không nên để mũi thuyền hướng ra ngoài ngụ ý rằng thuyền lớn ra khơi đầy sóng gió, nhiều trắc ẩn.
Thiết kế nội thất có đoàn thuyền lớn trở vàng bạc trâu báu đầu quay vào nhà
Bài trí tranh phong thủy có dòng suối:
“Thủy cai quản tài” nên khi bố trí tranh vẽ dòng nước nên để dòng nước hướng vào trong nhà. Rất kỵ trong nhà bố trí tranh có dòng nước hướng ra ngoài, nhất là các dòng nước mạnh thì gia đình sẽ bị hao tổn tài của. Trong nhà cũng không nên treo tranh thác ghềnh, vì tranh có thác ghềnh khiến chủ làm ăn lận đận, dần dần sẽ tổn hao tài sản.
(KTS Nguyễn Minh Sơn
http://thietkenhaxinh.com)

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011


Vỏ cafe là nguồn nguyên liệu rất tốt để chế biến phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao. Chất dinh dưỡng trong 1kg vỏ cafe tương đương 3 kg phân chuồng loại tốt . Vì hàm lượng hữu cơ cao trên 30% nên vỏ cafe đem bón mà không được ủ hoai mục thì lại là nguồn gây bệnh cho cây trồng.
phan vi sinh tu vo ca phe 550x412 Quy trình chế biến phân hữu cơ vi sinh từ vỏ cà phê
Sử dụng 01 kg men HB-01 ủ cho lượng vỏ cafe của 1,2 – 1,5 tấn nhân.
Có 2 cách ủ :
Cách 1 : ủ theo quy trình chuẩn để được phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao.
Chuẩn bị nguyên liệu:
  1. Vỏ café : 1 tấn
  2. Phân chuồng : 0,5 m3 (nhiều hơn càng tốt)
  3. Lân nung chảy : 25-50 kg
  4. Urê : 5 kg
  5. Mật mía (hay đường vàng) :  0,5-1 kg
  6. Men HB-01 : 1 kg (có thể nhiều hơn)
Qui trình :
  1. Bước 1 : làm ẩm toàn bộ vỏ cafe, tưới nước nhiều lần trước khi ủ sao cho vỏ mềm, để ráo nước (nếu không có điều kiện tưới thì khi trộn men có thể dùng ít nước tưới cho đều, hạn chế để róc nước, rồi sau 1 tuần ủ sẽ bổ sung thêm nước).
  2. Bước 2 : hòa toàn bộ men trong nước đường (mật), lượng nước nhiều hay ít tùy vào lượng men và độ ẩm của vỏ cafe, tưới hỗn hợp vào đống vỏ, để thời gian 3-5 tiếng đồng hồ cho ngấm đều (làm sao khi tưới trộn hỗn hợp men phải bám tương đối đều cả trên lẫn dưới đống vỏ, nước men không bị rỉ xuống dưới).
  3. Bước 3 : tiến hành ủ : hỗn hợp vỏ cafe + lân + urê + phân chuồng được trộn đều, chọn chỗ đất bằng và nhẵn, rải một lớp vỏ quả 40cm rộng ít nhất 2,0m, chiều dài tùy thuộc vào lượng vỏ café thành luống rồi tưới nước men đều lên mặt luống. Tiếp tục rải một lớp hỗn hợp dày 30cm và tưới nước men….làm khoảng 5 lớp sao cho đống ủ cao >1,5m. Ủ xong phủ toàn bộ bạt để giữ ẩm và nhiệt. Tuyệt đối không được nén chặt đống ủ ( không dẫm đạp lrên đống ủ) .
  4. Bước 4 : Sau khi ủ một tuần thì tiến hành kiểm tra đống ủ: đống ủ nóng, có nhiệt độ 70 độ C trở lên, có màu nâu đen là tốt, màu nâu nhạt là do thiếu nước, phải tưới thêm nước (hầu như toàn bộ đều phải tưới thêm nước).
Lượng nước nhiều quá hoặc ít quá đều ảnh hưởng đến quá trình phân hủy của men.
Sau 20 ngày tiến hành đảo trộn, lên đống và nén thật chặt, khoảng 75 – 90 ngày đống ủ sẽ hoàn toàn hoai mục, ta tiến hành rỡ bạt để 1- 2 ngày rồi mang đi bón hoặc hong khô đóng bao
………………………………………
CÁCH 2: ủ tắt để phân hủy vỏ trấu cafe hoai mục (cách này không dùng chất phụ gia)
Qui trình :
  1. Bước 1 : làm ẩm toàn bộ vỏ cafe, tưới nước nhiều lần trước khi ủ sao cho vỏ trấu mềm, để ráo nước, (nếu không có điều kiện tưới thì khi trộn men có thể dùng ít nước để tưới cho đều, hạn chế rỉ nước rồi sau 1 tuần ủ sẽ bổ sung thêm nước).
  2. Bước 2: hòa 1kg men trong 50– 100L nước (lượng nước nhiều hay ít tùy vào lượng men và độ ẩm của vỏ quả cafe, làm sao khi tưới trộn men phải bám tương đối đều cả trên và dưới của đống ủ, nước men không bị rỉ xuống dưới), để thời gian 3-5 tiếng đồng hồ.  Chọn chỗ đất bằng và nhẵn, rải một lớp vỏ cafe 40cm rộng tối thiểu 2,0m, chiều dài tùy thuộc lượng vỏ cafe, rồi tưới nước men đều lên mặt luống. Tiếp tục rải 30cm vỏ và tưới nước men… làm khoảng 5 lớp sao cho đống ủ cao >1,5m. Ủ xong phủ bạt lên toàn bộ để giữ ẩm và nhiệt, tuyệt đối không được nén chặt đống ủ ( không đi lại trên đống ủ) .
  3. Bước 3: Sau khi ủ một tuần thì tiến hành kiểm tra đống ủ: đống ủ nóng (có nhiệt độ > 70oc), đống ủ có màu nâu đen là tốt, màu nâu nhạt thì thiếu nước khi đó phải tưới thêm nước. (Hầu như toàn bộ phải tưới thêm nước).
Lượng nước nhiều quá hoặc ít quá đều ảnh hưởng đến quá trình phân hủy của men.
Sau 20 ngày tiến hành đảo trộn, lên đống và ném thật chặt, khoảng 75 – 90 ngày đống ủ sẽ hoàn toàn hoai mục ta tiến hành rỡ bạt để 1- 2 ngày rồi mang đi bón hoặc hong khô đóng bao.
………………………………………
Cách sử dụng phân vi sinh :
  • Cafe kiến thiết cơ bản bón 2-3 kg/cây ; cafe kinh doanh bón 4-6 kg/cây.
  • Phân ủ có mật độ vi sinh vật sống cao nên khi bón đất phải ẩm càng nhiều càng tốt (bón vào mùa mưa là tốt nhất).
  • Không nên trộn chung với các loại thuốc hóa học để vi sinh vật tiếp tục hoạt động giúp cho cây cafe chống bệnh thối rễ vàng lá.
  • Những cây cà fê nào bị thối rễ vàng lá thì bón nhiều phân ủ và giảm phân vô cơ.
• Ghi chú thêm :
  • Cách tưới nước bổ sung: dùng ống nước cắm trực tiếp vào đống ủ rồi bơn nước, thường xuyên tưới bổ sung cho đống ủ.
  • Không sử dụng nước máy hay các loại phân khác để ủ.
Chúc bà con thành công..
Chúng tôi sẵn sàng tư vấn miễn phí: kỹ thuật trồng và chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cây cafe, kỹ thuật ủ vỏ trấu cafe…
Cung cấp bởi : CÔNG TY TNHH SX –DV & TM TAM NÔNG PHÚ                                               
TRUNG TÂM DV KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Đc: 33 Cao Bá Quát – Đà Lạt
Đt: 0633.508003, Fax : 0633. 570.408
Email: tamnongphudl@gmail.com
ĐT tư vấn : 0905.553.203


thi truong phan bon Nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng phân bón
1. Đúng loại:
- Sử dụng đúng loại phân mà cây trồng yêu cầu và phù hợp với từng loại đất. Vì vậy cần phải hiểu rõ yêu cầu của từng loại cây: cần loại phân gì, tỷ lệ bao nhiêu tùy theo từng thời kỳ sinh trưởng, và nó được trồng trên loại đất có tính chất ra sao…
- Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển. Có loại cây ở giai đoạn sinh trưởng cần kali hơn đạm; cũng có loại cây ở thời kỳ phát triển lại cần đạm hơn kali. Bón đúng loại phân mà cây cần mới phát huy hiệu quả
.- Cây trồng yêu cầu phân gì bón phân đó. Phân bón có nhiều loại, nhưng có 4 loại chính là: N, P, K, S; mỗi loại có chức năng riêng. Bón phân không đúng yêu cầu, không phát huy được hiệu quả còn gây hại cho cây.
Ví dụ: Giai đoạn đầu của hầu hết các loại cây trồng đều cần loại phân có hàm lượng Đạm cao hơn. Nếu dùng phân hỗn hợp NPK để bón cho cây thì chọn loại có hàm lượng đạm cao như: NPK 20-10-10, NPK16-16-8,….
- Bón đúng không những đáp ứng được yêu cầu của cây mà còn giữ ổn định của môi trường đất. Đất chua tuyệt đối không bón những loại phân có tính axít cao quá ngưỡng ; đất kiềm không bón các loại phân có tính kiềm cao quá ngưỡng.
Ví dụ: Ở vùng đất quá chua, phèn thì nên sử dụng phân lân nung chảy hoặc lân có trong NPK để bón cho cây. Không nên sử dụng phân có gốc axít (phân lân supe) sẽ làm tăng độ pH của đất, cây không hấp thu được dinh dưỡng, bộ rễ không phát triển được.
2. Đúng liều
- Liều dùng là bao nhiêu? Hầu hết trên nhãn bao bì đều có hướng dẫn. Để sử dụng đúng liều lượng phân bón nhằm tiết kiệm được kinh tế, phù hợp với yêu cầu của cây trồng, tránh lãng phí phân bón, thì người sử dụng phải đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và kết hợp với quan sát hình thái và tình trạng của cây, đất đai nơi trồng cây, thời tiết, mùa vụ để quyết định bón lượng phân thích hợp.
Ví dụ: Vụ đông xuân ở miền bắc, thời tiết lạnh làm cho cây trồng hút ít dinh dưỡng hơn các vụ khác thì nên bón với số lượng ít hơn vừa tiết kiệm được chi phí lại không gây lãng phí.
- Trong canh tác, nông dân cũng có thể tùy theo sức sinh trưởng, sức đậu và nuôi trái của cây trồng mà gia giảm lượng phân cho tương đối, bên cạnh đó cũng cần lưu ý điều kiện thổ nhưỡng và pH của môi trường đất.
Ví dụ: Trên bao bì sản phẩm phân bón lá Better 001 HG – Grow có ghi pha 10 g cho một bình 8 – 10 lít, lắc đều cho tan. Thì phải pha đúng theo hướng dẫn nếu pha với lượng nước ít hơn thì sẽ làm cháy lá, nhiều hơn thì hiệu quả không cao…
3. Đúng lúc
- Đúng lúc là bón đúng lượng phân và đúng loại phân khi cây trồng cần. Trong suốt thời kỳ sống, cây trồng luôn luôn có nhu cầu các chất dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển, vì vậy nên chia ra bón nhiều lần theo quy trình và bón vào lúc cây phát triển mạnh, không bón một lúc quá nhiều, sai nguyên tắc. Việc bón quá nhiều phân một lúc sẽ gây ra thừa lãng phí, ô nhiễm môi trường, cây sử dụng không hết sẽ làm biến dạng dễ nhiễm bệnh, năng suất chất lượng nông sản thấp.
Ví dụ: Để cây ăn trái ra bông và đậu trái nhiều thì ta phải bón phân cho cây ở thời điểm chuẩn bị ra bông và trong thời kỳ nuôi dưỡng trái bón thêm phân bón lá…
4. Đúng cách
- Bón đúng cách là bón phân sao cho cây trồng hấp thu hiệu quả nhất lượng phân bón vào (đúng theo hướng dẫn của nhà SX).
- Một khi đã xác định được đúng phân, thuốc, pha đúng liều lượng và chọn đúng thời điểm để xử lý mà cách dùng lại không đúng thì làm giảm tối đa hiệu quả sử dụng.
Ví dụ: Phân bón lá thì phải phun vào lúc trời mát, khoảng 8–10 giờ sáng hoặc 15–17 giờ chiều, thì lúc đó cây mới không bị cháy lá, hấp thu tối đa lượng phân được phun…
- Sử dụng phân phun qua lá sẽ không mang lại hiệu quả mà ngược lại sẽ làm tổn thương cây (cháy lá) nếu sử dụng không đúng cách. Lá cây trồng, ngoài chức năng quang hợp còn có vai trò thoát hơi nước qua hệ thống khí khổng, đó là những lỗ nhỏ li ti nằm phần lớn ở mặt dưới lá và cũng chính nơi đây mới có điều kiện hấp thu phân qua lá. Do đó khi sử dụng phân phun qua lá cần phải phun tập trung ở mặt dưới lá.
- Trong sử dụng phân bón hữu cơ khuyến cáo khi bón phân hãy đào rãnh và bón vòng theo hình chiếu của tán cây, phân hóa học như NPK bón theo đường rãnh cách  gốc 2/3 hình chiếu của tán cây, bởi cây nhận được phân qua hệ thống lông hút của rễ, mà hệ thống lông hút lại tập trung ở gần đầu chóp rễ và tồn tại không quá 24 tiếng do quy luật phát triển của cả hệ thống rễ, bên cạnh đó phân khi bón vào đất phải có quá trình hòa tan, phân ly tạo các ion và bám vào keo đất. Do đó bón phân theo hình chiếu tán, để phân có thời gian hòa tan, rễ có thời gian tìm đến để hấp thu phân.
* Việc sử dụng đúng 04 nguyên tắc trên ngoài việc giảm tối đa chi phí đầu vào cho việc sản xuất hàng nông sản còn làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, và không gây ảnh hưởng đến môi trường.
Nguyễn Vịnh – Theo NNVN


cham soc ca phe1 Quy trình bón phân cho cây cà phê giai đoạn kinh doanh

nguyên tắc 4 đúng

  1. Bón phân cân đối.
  2. Bón phân kịp thời vụ.
  3. Bón phân đúng cách.
  4. Bón phân đủ hàm lượng.

Phân bón và thời điểm bón

1, Lượng phân
Tỷ lệ N-P-K = 3,2 – 1,2 – 3,5
Dựa vào năng suất cà phê nhân của vụ trước và tình hình sinh trưởng của cây mà quyết định lượng phân bón cho cả năm: Năng suất < 3,5t/ha thì lượng phân nguyên chất cần bón trong năm là: N= 320kg; P =120kg ; K =350kg
Nếu Năng suất tăng thên 1 tấn nhân/ ha thì lượng phân nguyên chất tăng thêm :N= 70kg ; P =25kg ; K =75kg
2, Thời điểm bón và tỷ lệ N-P-K bón trong từng thời kỳ
  • Lần 1 (tháng 1-2 – giai đoạn tưới) ≈ 15% 0% 0%
  • Lần 2 ( Tháng 5 – đầu mùa mưa) ≈ 30% 100% 18%
  • Lần3 (tháng 7 – giữa mùa mưa) ≈ 40% 0% 35%
  • Lần 4(tháng 9 – 10 – cuối mùa mưa) ≈ 15% 0% 47%
Ví dụ: 1ha cà phê vụ 2010 cho năng suất 4,5t nhân thì lượng phân chất nguyên cần bón là : N= (320 +70)kg; P = (120 +25)kg ;  K= (350 + 75)kg,
Nếu bón phân đơn gồm Sa ≈ 22%, Ure = 46%, Kaliclorua(Kcl) = 60%, Lân Supper =14% thì lượng phân thương phẩm cần bón cho 1ha/năm là: Sa =250kg, Ure ≈ 800kg; Lân ≈ 1.050kg; Kali ≈ 800kg và được chia làm những lần bón như sau:
Đạm(kg) Lân(kg) Kali(kg)
  • Lần 1 (tháng 1-2 – giai đoạn tưới) ≈ 250 /0 / 0
  • Lần 2 ( Tháng 5 – đầu mùa mưa) ≈ 280 / 1.050 / 150
  • Lần3 (tháng 7 – giữa mùa mưa) ≈ 380 / 0 / 280
  • Lần 4(tháng 9 – 10 – cuối mùa mưa) ≈140 / 0 / 370
Công thức tính lượng phân thương phẩm cần bón:
Lượng phân thương phẩm cần bón = lượng phân nguyên chất cần bón x 100 : hàm lượng 75 Quy trình bón phân cho cây cà phê giai đoạn kinh doanh của phân.
Ví dụ: lượng lân nguyên chất cần bón 145kg, hàm lượng lân là 14%, ta tính lượng lân thương phẩm cần bón =145 x 100 : 14 = 1035,7kg lân ta có thể làm tròn là 1050kg.
• Lưu ý:
  • Trong quá trình bón bà con dựa vào tình hình sinh trưởng thực tế của cây cà phê để điều chỉnh cho phù hợp, cây xấu, yếu bón ít phân và bón làm nhiều lần…
  • Nếu đất có độ PH thấp (chua) hạn chế bón phân supper lân và phân sunfate (So4).
Vì thời gian có hạn chúng tôi giới thiệu tóm tắt quy trình bón phân, hẹn lần sau chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết QTKT thâm canh cây cà phê.
Chào tạm biệt!
Bài viết được cung cấp bởi công ty TAM NÔNG PHÚ
I- ĐẶC TÍNH THỰC VẬT HỌC: 1-Rễ: Cây cà phê có 3 loại rễ - Rễ cọc:dài từ 0,3-0,5 m, mọc từ thân chính. Nhiệm vụ giữ thân tránh đỗ ngã. - Rễ nhánh: mọc ra từ rễ cọc, có thể ăn sâu 1,2- 1,5 m.Rễ nhánh càng ăn sâu, khả năng hút nước và chịu hạn càng tốt. Các rễ bên mọc từ rễ nhánh thành hệ thống rễ con. - Rễ con:phát triển của rễ con phụ thuộc vào độ dày của tầng đất canh tác, giống cà phê, chế độ bón phân, tưới nước, canh tác. Hệ thống rễ này hầu hết tập trung ở tầng đất mặt (từ 0-30 cm). Nhiệm vụ chủ yếu là hút chất dinh dưỡng và nuôi cây.


2- Lá:
    
Đối với cà phê vối, lá có tuổi thọ từ 7 – 10 tháng. Thời tiết , dinh dưỡng không tốt có thể làm lá rụng sớm . Cành và lá có tương quan chặt chẽ với năng suất cà phê. Lá, cành và thân cà phê là nơi dự trữ dinh dưỡng để tạo hoa và nuôi quả. Tinh bột trong quang hợp sẽ tích lũy trong lá và hệ thống mô của cây, nếu lượng này suy giảm sẽ dẫn đến hiện tượng rụng hoa, quả và cho hạt nhỏ, năng suất thấp. Đây chính là yếu tố cần quan tâm trong quá trình chăm sóc cây cà phê để đạt năng suất cao.
4-Hoa:
    Hoa mọc ra ở các chồi nách lá của cành sơ cấp và cành thứ cấp. Hoa thường nở về đêm và nở hết khoảng 4-5 giờ sáng. Cà phê vối (Robusta) thụ phấn chéo là chủ yếu, đặc tính này phụ thuộc rất nhiều vào gió và côn trùng, vì vậy việc nuôi ong mật trong vườn cây cà phê cũng là biện pháp tăng tỷ lệ đậu quả của cà phê.
    Cà phê vối không ra hoa lại ở những đoạn cành (hoặc nách lá) đã ra hoa năm trước.
5- Quả:
    
Sau khi thụ phấn, quả phát triển nhanh, thường quả cà phê có 1-2 nhân (tùy theo lượng nước tưới và chế độ dinh dưỡng). Thời gian sinh trưởng đối với quả cà phê vối thường từ 9-11 tháng (tuỳ theo điều kiện chăm sóc).
II- ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH:
1-Nhiệt độ: Cây cà phê vối sinh trưởng phát triển thích hợp nhất từ 22 – 26 độ C.
2 Ánh sáng: cây cà phê vối thích hợp ánh sáng trực xạ yếu, do đó cần trồng cây che bóng để điều hòa ánh sáng cho vườn cây cà phê hợp lý đặc biệt là giai đoạn kiết thiết cơ bản.
3-Ẩm độ: Cây cà phê (Vối) thích hợp trong điều kiện ẩm độ cao, gần như bão hòa.
4- Lượng mưa: Cây cà phê sinh trưởng phát triển tốt ở những vùng có lượng mưa hàng năm 1.800 – 2.000 mm, có một mùa khô ngắn vào cuối và sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa.
5- Gió: Gió nóng, lạnh hay gió mạnh đều gây ảnh hưởng cho sinh trưởng phát triển cây cà phê. Khi lập vườn cần trồng cây chắn gió phù hợp cho vườn cà phê.
III- ĐẤT ĐAI:
Cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, nó có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám …. Trong đó, đất đỏ bazan cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Yêu cầu cơ bản là có tầng đất mặt sâu từ 70 cm trở lên, có thành phần cơ giới trung bình đến hơi nặng (Đất thịt nhẹ- sét).
IV- KỸ THUẬT TRỒNG – CHĂM SÓC:
     1- Kỹ thuật trồng:
      -Thời vụ:Trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6).
      - Khoảng cách, mật độ:Đất tốt, điều kiện thâm canh cao thì trồng thưa và ngược lại.
Khoảng cách: đất tốt và bằng phẳng 3 x 3 m (1.118 cây/ha); đất trung bình và dốc 3 x 2.5 m (1.330 cây/ha).
     -Cách trồng, bón phân lót: Đào hố trước trồng 1 tháng ( 60 x 60 x60 cm). Bón lót : - Lớp đất mặt trộn với 10 – 20 kg phân chuồng hoai + Hữu cơ sinh học HVP 401B : 1 kg + Hữu cơ khoáng vi lượng HVP ORGANIC : 0,2 kg + 0,5 kg super lân + 0.5 kg vôi bột đưa xuống hố. Lớp đất dưới để một phía sau dùng làm bồn quanh gốc. Lúc trồng bón lót ngoài tán lá cây 100 gram phân NPK 16–16–8–13 S.*Chú ý: Dặm chặt đất ở xung quanh gốc, sau cơn mưa lớn cần vét bồn, để phòng cây bị lấp.
       2- Bón phân ,chăm sóc:
             a - Đánh chồi vượt cho cây cà phê:
                     Chồi vượt phát triển rất nhanh trong mùa mưa, do vậy cần đánh chồi vượt kịp thời. Trung bình 1 tháng đánh chồi vượt 1 lần. Khi đánh chồi vượt chú ý vặt các cành tăm, cành nhớt mọc quá nhiều ở cùng một vị trí đốt cành. Ở mỗi vị trí đốt cành chỉ nên để lại không quá 3 cành dự trữ được phát sinh. Chú ý vặt các cành thứ cấp mọc dày trên đỉnh tán tạo điều kiện để ánh sáng lọt vào bộ tán cà phê.
           b- Đào rãnh ép xanh, hoặc cày rạch hàng ép xanh:
                     Đào rãnh sâu 30cm, dài 1m, rộng 20-25cm dọc theo mép trong bồn cà phê, mỗi gốc cà phê đào 1-2 rãnh. Dồn tất cả cỏ rác trên lô và cả phân chuồng vào rãnh, lấp đất lại. Cũng có thể cày rạch hàng giữa 2 hàng cà phê, cày sâu 50cm, nên cày 1 hàng, bỏ một hàng và năm sau lại cày luân phiên để hạn chế làm tổn thương bộ rễ cà phê. Tương tự như rãnh đào trong mép bồn, rãnh cày là vị trí để ép xanh cỏ rác trên lô và bón phân chuồng.
        c - Làm cỏ, bón phân:
                   Làm sạch cỏ trên hàng cà phê, không để cỏ dại cạnh tranh với cà phê. Bón phân cho cà phê sau khi làm cỏ sạch. Liều lượng phân bón và loại phân bón như sau:
- Phân hữu cơ: - phân chuồng hoai :liều lượng 15-20 m3/ha ( 2 năm bón 1 lần)                                                    -  phân hữu cơ sinh học HVP ORGANIC CHUYÊN THÚC CÀ PHÊ với lượng 1-1,5 tấn/ha(chia 2-3 lần bón/năm) . Kết hợp việc bón phân hữu cơ với đào rãnh ép xanh cho vườn cà phê.
- Vôi bột: bón 300-400 kg/ha/năm, rải tung đều khắp mặt đất, tiếp xúc với đất càng nhiều càng tốt, không cần lấp đất.
- Phân hóa học:
          * Các năm trồng mới và kiến thiết cơ bản:
        Sử dụng phân NPK 20-20-15-TE , bón với liều lượng sau:
                     + Năm trồng mới: 400-600 kg/ha
                     + Năm thứ 2: 600-700 kg/ha
                     + Năm thứ 3: 800-900 kg/ha
         Lượng phân trên được chia ra bón 3 lần trong mùa mưa.
         * Cà phê kinh doanh:
Sử dụng loại phân NPK 16-8-16-13S-TE , có thành phần NPK cân đối, có thành phần lưu huỳnh và trung vi lượng cần thiết phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng cà phê trong mùa mưa.
Bón 3 lần trong mùa mưa. Đối với vườn cà phê đạt từ 3-4 tấn nhân/ha, bón với liều lượng sau:
                     + Đợt 1: 500-700 kg/ha, bón vào đầu mùa mưa, khi mưa đã đều.
                     + Đợt 2: 700-800 kg/ha, bón vào giữa mùa mưa.
                     + Đợt 3: 800-1000 kg/ha, bón  gần cuối mùa mưa, trước khi chấm dứt mưa  20 ngày.
Nếu năng suất vườn cây cao hơn mức 3-4 tấn nhân/ha, ở mỗi đợt bón, cần bón tăng cường thêm từ 150-200 kg/ha/lần.
Bỏ phân khi đất đủ ẩm. Rạch rãnh xung quanh tán cây cà phê, rải phân đều và lấp đất.
-Phân bón lá:  + HVP 801S CHUYÊN CÀ PHÊ :phun định kỳ 7-10 ngày/1lần để nuôi cành dưỡng lá. +HVP 15-30-15 : phun giai đoạn trước ra hoa 1 tháng để hình thành mầm hoa,.                                  +HVP AUXIN ORGANIC : phun trước khi ra hoa 10 ngày để thúc ra hoa đồng loạt.                        +HVP 5-35-6 CHỐNG RỤNG TRÁI CÀ PHÊ : phun giai đoạn 7-14 ngày trước khi trổ hoa và sau khi đã đậu trái non. Định kỳ phun 7 ngày /1lần để dưỡng trái .                                                                   +HVP SIÊU TO HẠT : phun định kỳ 7 ngày /1 lần giai đoạn trái đang lớn để làm to hạt,tăng chất lượng hạt cà phê.
             d-Tỉa cành:
           Thường xuyên tỉa bỏ những chồi vượt, những cành bị sâu bệnh gây hại, những cành đã ra quả ở những năm trước chỉ còn 2-3 cặp lá ở đầu cành.
V- PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:
1-BỆNH HẠI:
1.1- Bệnh lở cổ rễ (nấm Rhizoctonia solani):
Bệnh thường gây hại cây con ở vườn ươm và thời kỳ kiến thiết cơ bản. Bệnh hại ở phần cổ rễ, làm cổ rễ bị teo, khô thắt lại.
Phòng trị: Tiêu huỷ những cây bệnh nặng, dùng các loại thuốc để tưới vào gốc như: Validamycin (Validacin); Pencycuron (Monceren) hoặc các loại thuốc gốc đồng.
1.2-Bệnh khô cành, khô quả (nấm Collectotrichum coffeanum)
Bệnh thường phát triển vào đầu mùa mưa nhưng thể hiện rõ rệt khi quả còn non đến lúc 6-7 tháng tuổi.
Phòng trị: Bón phân đầy đủ, kịp thời cân đối NPK, dùng các loại thuốc Propineb (antracol); Carbendazim(bavistin); hoặc các loại thuốc gốc đồng như copper sulfat (Bordeaux), Kasugamycin 2 % + Copper Oxychloride 45% (Kasuran) để phòng trừ 2-3 lần/vụ.
1.3-Bệnh tuyến trùng:
Do tuyến trùng Pratylenchus coffae gây vết thương, tuyến trùng Meloidogyne spp. gây nốt sần, tuyến trùng Tylenchus gây nội sinh. Cây bị bệnh thường sinh trưởng kém, vào mùa khô thường bị vàng héo, có khả năng lây lan lớn.
Phòng trị: Phát hiện sớm, tiêu hủy những cây bệnh nặng, cây bị bệnh nhẹ nên tăng cường bón phân hữu cơ, xử lý đất bằng thuốc cytokinin (Sincocin).
1.4-Bệnh rỉ sắt (Hemileia vastatrix)
Triệu chứng: Bệnh thường xuất hiện ở những vườn cây già cỗi, đầu tư kém. Bệnh hại trên lá, vết bệnh hình tròn, có lớp bột phấn vàng màu da cam ở mặt dưới lá. Bệnh làm rụng lá, thường hại nặng vào tháng 10-11-12 và tháng 3, 4 trong năm.
Phòng trị: Cuối mùa mưa (tháng 10-110 dùng copper sulfat (Bordeaux 1%) hay copper hidroxide (Champion) phun mặt dưới lá 3-4 tuần/lần khi bệnh mới xuất hiện. Hiện nay có thể dùng các loại thuốc nội hấp Hexaconazole 85% (Anvil), cyproconazole 94% (Bonanza), Propiconazole 90% (Tilt).
Chú ý: Bệnh đã phát triển cần vệ sinh vườn, tỉa cành cho thông thoáng kết hợp với dùng thuốc hóa học.
1.5. Nấm hồng (Corticium salmonicolor)
Tác hại trên cành và phần ngọn của cây, thường phát sinh mạnh vào đầu và trong mùa mưa, khi phát hiện thấy cành bị bệnh và cắt đốt kịp thời. Tiến hành phun thuốc phòng trừ : dùng Bordeaux hay Oxyt clorua Đồng1% phun vào vùng bị bệnh, boặc dùng dung dịch Bordeaux 5% quét lên vết bệnh ở cành chưa bị héo.
2-SÂU HẠI:
2.1- Rệp sáp (Pseudococus. Spp):
Gây hại ở chùm quả và vùng rễ làm cho cây cà phê phát triển kém, làm rụng quả. Thường xuyên theo dõi và phát hiện sớm. Thực hiện phun thuốc trên những cây phát hiện rệp
Phòng trị: Phát hiện sớm dùng Alpha-cypermethrin 90% (Fastac), Methidathion 96% (Supracide 40 EC).
2.2- Mọt đục cành (Xyleborus mortati):
Phá hại chủ yếu trong thời kỳ kiến thiết cơ bản sang thời kỳ kinh doanh.
Phòng trị: Phát hiện cắt bỏ kịp thời, gom đốt những cành bị mọt.
2.3-Sâu đục vỏ trái (Prays endolemma):
Thường tấn công trái non làm rụng trái hay tạo các ụ lớn trên vỏ trái làm trái bị biến dạng, giảm giá trị sản phẩm.
Phòng trị: Cần theo dõi thu gom các trái rụng đem chôn để trừ ấu trùng đang phát triển trong vỏ trái.
2.4-Mọt đục trái (Stephanoderes lampei):
Đục từ núm quả vào trong sau đó phá hạt. Dùng các loại thuốc để trừ như: Phun Fenvalerate 92% (First 20EC), Etofenprox 96% (Trebon), Lambda-cyhalothrin (Karate) vào giai đoạn quả chuyển từ xanh sang chín.
Ngoài ra còn bị một số bệnh khác do thiếu dinh dưỡng được gọi là bệnh sinh lý như bệnh vàng lá do thiếu lưu huỳnh (S), bệnh rụt cổ do thiếu kẽm (Zn)…
2.5 Sâu đục thân thường gọi là Bore (Xylotrechus quadripe). Chỉ tác hại trên giống cà phê chè ở tuổi cây thường từ cuối năm thứ 3 trở đi. Sâu đẻ trứng vào kẻ nút của vỏ sau đó sâu non nỏ vào phá hoại phần gỗ bên trong thân cây là cho cây héo rồi chết. Loại sâu này khả năng xuất hiện quanh năm nhưng tập trung đẻ trứng rộ vào hai thời kỳ xuân, hè (tháng 3,4,5) và thu đông (tháng 10,11).
Trồng cây bóng mát cho cà phê để hận chế sự tác hại của sâu. Dùng Boremun 4% phun phủ kín lên thân cây từ ngọn đến gốc 1 năm 2 lần để diệt trừ trứng, sâu non và sâu trưởng thành vào tháng 3-4 (xuân – hè) và tháng 10-11 (vụ thu đông). Những cây bị sâu nặng phải kịp thời cưa cắt kịp thời để kịp thời diệt nguồn sâu trưởng thành.
VI- THU HOẠCH – CHẾ BIẾN – BẢO QUẢN:
1-Thu hoạch:
Khi thu hoạch chỉ nên hái trái cà phê vừa chín vì những trái cà phê quá chín hoặc xanh là nguyên nhân làm cho cà phê mất mùi vị ngon. Ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho nấm mốc và độc tố phát triển.
Cà phê thu hoạch ngày nào, chế biến ngay ngày đó, không nên ủ quá 24 giờ, làm giảm chất lượng.
2-Chế biến: Có 2 phương pháp:
– Chế biến ướt: Xát tươi loại bỏ phần vỏ, thịt, sau đó lên men hay xát bỏ phần nhớt bám xung quanh vỏ trấu, ngâm rửa rồi đem phơi.
– Chế biến khô: Sau khi thu hoạch đem phơi cả quả, không qua khâu xát tươi.
Cà phê được phơi trên nền ximăng, trên tấm vải nhựa. Phơi từng lớp mỏng (không dày quá 3-4cm) và đảo qua lại thường xuyên.
3- Bảo quản sau thu hoạch:
-Chỉ đưa vào bảo quản trong kho khi độ ẩm trong hạt không quá 12,5% để cà phê không bị lên men mốc, không bị mất mùi, không để trực tiếp trên nền đất.
-Dùng bao tải sạch để bảo quản cà phê, trong nhà kho có thông gió tốt và đề phòng nước dột, không để cà phê sát tường. Không dùng bao nhựa để chứa cà phê, chứa cà phê trong bao không quá đầy.

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011